Trong bối cảnh kinh tế trong nước và thế giới có nhiều bất định do thiên tai, dịch bệnh, ngành Ngân hàng đã chủ động thích ứng, kịp thời đưa ra nhiều giải pháp quyết liệt, phù hợp với diễn biến nền kinh tế, qua đó tiếp tục đóng góp vào thành tựu chung của đất nước. Những kết quả đã đạt được của ngành Ngân hàng năm 2020, cũng như trong cả nhiệm kỳ 2016-2020 là cơ sở, nền tảng quan trọng cho việc tiếp tục củng cố mục tiêu ổn định vĩ mô, tăng trưởng kinh tế bền vững trong giai đoạn 2021 – 2025.
Trả lời phỏng vấn Thời báo Ngân hàng, Phó Thống đốc Thường trực NHNN Đào Minh Tú cho biết, với những thành tựu đã đạt được trong giai đoạn vừa qua, ngành Ngân hàng sẵn sàng bước sang năm 2021 – năm đầu tiên của thập kỷ mới, nhiệm kỳ kế hoạch mới với tâm thế hội nhập, gắn kết và sẵn sàng ứng phó với những bất định của thế giới; phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, địa phương hoàn thành mục tiêu Quốc hội, Chính phủ đặt ra theo đường lối chủ trương của Đảng.
![]() |
| Phó Thống đốc Thường trực NHNN Đào Minh Tú |
Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc cho rằng, thành công không chỉ bởi những gì đạt được mà cả những trở ngại chúng ta đã vượt qua. Nhìn lại giai đoạn 2016 – 2020, theo ông đâu là điểm nhấn trong điều hành chính sách tiền tệ (CSTT) của NHNN?
Trong 5 năm qua, mặc dù gặp nhiều khó khăn, thách thức, chịu nhiều tác động của kinh tế thế giới và trong nước, NHNN đã luôn kiên định mục tiêu kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, điều hành đồng bộ các công cụ và giải pháp CSTT, đúng thời điểm và với liều lượng hợp lý để phản ứng nhanh nhạy, phù hợp với diễn biến kinh tế thế giới và trong nước. Toàn ngành Ngân hàng tiếp tục thực hiện tốt các nhiệm vụ chính trị được Đảng, Quốc hội, Chính phủ và Thủ tướng giao phó.
Thứ nhất, lạm phát bình quân được kiểm soát ở dưới 4% theo đúng mục tiêu Quốc hội đề ra, góp phần hỗ trợ tăng trưởng kinh tế ở mức cao so với các nước trên thế giới và khu vực; thị trường tiền tệ, thị trường vàng được kiểm soát và điều hành linh hoạt; tỷ giá và thị trường ngoại hối tương đối ổn định, dự trữ ngoại hối Nhà nước tăng cao. Trong cả giai đoạn vừa qua, tỷ giá trung tâm dao động ở mức 0,03-1,78%/năm; tỷ giá bình quân liên ngân hàng dao động ở mức 0,12-2,16%/năm. Đồng Việt Nam giá trị và sức mua ổn định hơn nhiều so với đồng tiền của nhiều đối tác thương mại, niềm tin vào đồng Việt Nam ngày càng được củng cố.
Thứ hai, mặt bằng lãi suất giai đoạn 2016 – 2020 ổn định theo xu hướng giảm và thấp so với các năm trước, trong đó bình quân lãi suất cho vay giảm khoảng 3,6% so với giai đoạn 2011-2015; lãi suất cho vay tối đa đối với các lĩnh vực ưu tiên giảm khoảng 2,5%/năm so với năm 2016 (thấp hơn mức lãi suất cho vay bình quân của ASEAN-4).
Thứ ba, với vai trò là huyết mạch của nền kinh tế, hệ thống ngân hàng đã tích cực thực hiện Đề án tái cơ cấu gắn với xử lý nợ xấu, từ đó nâng cao hiệu quả chu chuyển vốn trong nền kinh tế. Tín dụng giai đoạn 2016-2020 tăng trưởng phù hợp với mức hấp thụ của nền kinh tế, chất lượng tín dụng được nâng cao. Các giải pháp, chính sách tín dụng của NHNN đã đi đúng hướng, bình quân tín dụng tăng 15%/năm (riêng năm 2020 tăng trên 12%, phù hợp trong bối cảnh nền kinh tế chịu tác động của đại dịch Covid-19), vừa đảm bảo mở rộng tín dụng hiệu quả, an toàn, cung ứng đủ vốn cho nền kinh tế, vừa phù hợp với mục tiêu kiểm soát lạm phát. Cơ cấu tín dụng chuyển dịch mạnh theo hướng tích cực, tập trung chủ yếu vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên (như tín dụng đối với lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn chiếm gần 25%; DNNVV chiếm khoảng 20% tổng dư nợ nền kinh tế…), góp phần hỗ trợ tích cực cho tăng trưởng kinh tế.
Thứ tư, công tác cơ cấu lại hệ thống các TCTD đã đạt được những kết quả quan trọng theo mục tiêu, lộ trình đề ra tại Đề án 1058, góp phần bảo đảm an toàn hoạt động ngân hàng. Hầu hết TCTD đã có tỷ lệ an toàn vốn đạt chuẩn Basel II. Nợ xấu của hệ thống TCTD được xử lý một cách hiệu quả hơn. Tỷ lệ nợ xấu nội bảng, nợ bán cho VAMC chưa xử lý và nợ tiềm ẩn trở thành nợ xấu của hệ thống TCTD giảm mạnh qua các năm, từ mức 10,08% cuối năm 2016 xuống mức 4,36%. Các dòng vốn tín dụng vào những lĩnh vực rủi ro được kiểm soát chặt chẽ. Năng lực tài chính, năng lực quản trị rủi ro và năng lực thích ứng tiếp cận công nghệ mới của các TCTD được nâng cao.
Thứ năm, hoạt động thanh toán tiếp tục có những bước tiến vượt bậc cả về chất và lượng với nhiều sản phẩm, dịch vụ thanh toán mới, tiện ích và hiện đại dựa trên ứng dụng công nghệ thông tin. Các chỉ số thanh toán không dùng tiền mặt (TTKDTM) tăng trưởng ấn tượng. Công tác đảm bảo an ninh, an toàn hệ thống thanh toán được coi trọng và tăng cường; các rủi ro, nguy cơ mất an toàn cơ bản được nhìn nhận, kiểm soát và xử lý kịp thời.
Thứ sáu, công tác hoàn thiện thể chế tiếp tục được chú trọng; trong giai đoạn 2016-2020, Luật Các TCTD được sửa đổi, bổ sung và nhiều Nghị quyết, Nghị định, Quyết định, Thông tư được ban hành tạo hành lang và khuôn khổ pháp lý đầy đủ hơn, minh bạch hơn, rõ ràng thống nhất hơn, bảo đảm hệ thống ngân hàng hoạt động an toàn, các TCTD chủ động và được nâng quyền tự chủ phù hợp kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người gửi tiền, củng cố lòng tin của người dân vào hệ thống ngân hàng.
Thứ bảy, công tác cải cách hành chính giai đoạn 2016-2020 được quan tâm chỉ đạo triển khai quyết liệt, đạt được kết quả tích cực trên tất cả các mặt, tạo môi trường thuận lợi, thông thoáng trong lĩnh vực ngân hàng, nâng cao chỉ số tiếp cận tín dụng, tăng cường sự thuận lợi cho người dân và DN trong các quan hệ tín dụng và các dịch vụ tiền tệ, thanh toán.
Những kết quả đã đạt được của ngành Ngân hàng năm 2020 cũng như trong suốt cả nhiệm kỳ vừa qua là cơ sở, nền tảng quan trọng cho những định hướng và mục tiêu mới của ngành Ngân hàng, tiếp tục là động lực và giải pháp quan trọng góp phần củng cố vững chắc, ổn định kinh tế vĩ mô, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế trong bối cảnh thế giới có nhiều yếu tố bất định, diễn biến phức tạp đã và đang diễn ra.

Tăng trưởng tín dụng luôn gắn liền với nhiệm vụ hỗ trợ tăng trưởng kinh tế. Ông có cho rằng, mức tăng trưởng dương trong năm 2020 của Việt Nam một lần nữa minh chứng cho câu chuyện này?
Bám sát các mục tiêu tăng trưởng kinh tế và lạm phát bình quân được Quốc hội và Chính phủ đặt ra, hàng năm NHNN xây dựng chỉ tiêu định hướng tín dụng cả năm, có điều chỉnh phù hợp với diễn biến, tình hình thực tế. NHNN chủ trương thực hiện các giải pháp tín dụng nhằm kiểm soát quy mô tín dụng phù hợp với chỉ tiêu định hướng đồng thời nâng cao chất lượng tín dụng và kiểm soát lạm phát, tạo điều kiện cho người dân và DN tiếp cận vốn tín dụng. Có thể nói, với sự quyết liệt trong chỉ đạo điều hành của NHNN và sự vào cuộc nhanh chóng của hệ thống TCTD, chúng ta đã thực hiện tốt mục tiêu hỗ trợ tăng trưởng kinh tế. Trong giai đoạn 2016-2020, GDP duy trì mức tăng trưởng khá khoảng 6,21-7,08%.
Riêng năm 2020, tôi cho rằng, sự quyết tâm, hành động mạnh mẽ, kịp thời của Đảng, Chính phủ, các bộ ngành cũng như sự đoàn kết của toàn dân trong kiểm soát tốt dịch Covid-19, đã cho chúng ta điều kiện thuận lợi để duy trì hoạt động kinh tế, xã hội trong điều kiện “bình thường mới” và là một trong số ít quốc gia có mức tăng trưởng dương cao nhất thế giới.
Đối với ngành Ngân hàng, trước bối cảnh DN và người dân chịu ảnh hưởng nặng nề bởi đại dịch Covid-19, thiên tai, bão lũ, hạn mặn, NHNN đã đặt nhiệm vụ tháo gỡ khó khăn cho hoạt động sản xuất kinh doanh là trọng tâm trong chỉ đạo, điều hành, bởi vậy, đã vào cuộc rất sớm. NHNN đã chủ động, linh hoạt trong điều hành các công cụ của CSTT, bám sát chủ trương thực hiện “mục tiêu kép” của Chính phủ, ưu tiên mục tiêu ổn định, củng cố nền tảng vĩ mô, kiểm soát lạm phát, hỗ trợ duy trì và phục hồi nền kinh tế trong và sau dịch.
Để kịp thời hỗ trợ nền kinh tế trước diễn biến phức tạp của dịch bệnh Covid-19, năm 2020 NHNN đã ba lần điều chỉnh giảm đồng bộ các mức lãi suất với quy mô tương đối lớn và liên tục với tổng mức giảm khoảng 1,5-2%/năm lãi suất điều hành để sẵn sàng hỗ trợ thanh khoản, tạo điều kiện cho các TCTD tiếp cận nguồn vốn từ NHNN với chi phí thấp. NHNN đã ban hành một loạt văn bản tạo cơ sở pháp lý cho các TCTD hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn cho DN và người dân, trong đó đặc biệt là Thông tư 01 cho phép các TCTD cơ cấu lại thời hạn trả nợ, miễn giảm lãi vay, giữ nguyên nhóm nợ cho khách hàng. Đồng thời, yêu cầu các TCTD tiết giảm chi phí hoạt động để có điều kiện giảm lãi suất ở mức tối đa; miễn, giảm phí các dịch vụ thanh toán. NHNN cũng đã yêu cầu TCTD triển khai các giải pháp cụ thể nhằm hỗ trợ DN, người dân bị ảnh hưởng bởi dịch bệnh. Thực tế cho thấy, hỗ trợ khách hàng, người dân vượt qua khó khăn cũng là cơ hội để TCTD khẳng định thương hiệu và tiềm lực tài chính của mình cũng như sự đồng hành, chia sẻ với DN, cộng đồng… và đây cũng là lúc ngành Ngân hàng thể hiện trách nhiệm với xã hội, người dân.
Thực hiện chỉ đạo của Chính phủ và NHNN, các TCTD đã cơ cấu lại thời hạn trả nợ cho khoảng 270.000 khách hàng bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19 với dư nợ gần 355.000 tỷ đồng; miễn, giảm, hạ lãi suất cho khoảng 590.000 khách hàng với dư nợ trên 1 triệu tỷ đồng. Đặc biệt, các TCTD đã cho vay mới lãi suất ưu đãi (thấp hơn phổ biến từ 0,5 – 2,5% so với trước dịch) với doanh số đạt gần 2,3 triệu tỷ đồng cho hơn 390 nghìn khách hàng; Miễn, giảm các loại phí thanh toán cho khách hàng đến hết năm 2020 khoảng hơn 1.000 tỷ đồng.
Những tháng đầu năm 2020, do tác động của dịch Covid-19, hoạt động sản xuất kinh doanh, tiêu dùng bị chững lại, nhu cầu vay vốn mở rộng sản xuất kinh doanh của DN và người dân giảm sút khiến cầu tín dụng giảm. Trước tình hình đó, NHNN đã chủ động điều chỉnh tăng mức tăng trưởng tín dụng của nhiều TCTD có khả năng mở rộng tín dụng lành mạnh vào các lĩnh vực phục vụ cho tăng trưởng kinh tế; ưu tiên chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng ở mức cao hơn đối với TCTD tham gia hỗ trợ cơ cấu các TCTD yếu kém, có tỷ lệ nợ xấu thấp; tích cực giảm lãi suất cho vay đối với khách hàng, tập trung vốn cho vay vào các lĩnh vực ưu tiên. Nhờ kịp thời triển khai đồng bộ các giải pháp, tín dụng từng bước được cải thiện và đến ngày 31/12/2020, dư nợ tín dụng toàn hệ thống đạt trên 9,2 triệu tỷ đồng, tăng 12,13% so với cuối năm 2019, tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn tăng 9,8%, chiếm 24,76% tổng dư nợ nền kinh tế; tín dụng đối với lĩnh vực xuất khẩu tăng 10,4%, chiếm 2,92%; tín dụng đối với lĩnh vực DNNVV, tăng 11,0%, chiếm 19,64%.
Những giải pháp quyết liệt và kịp thời của ngành Ngân hàng, tôi cho rằng, đã thực sự góp phần quan trọng để GDP tăng mức 2,91% trong điều kiện rất khó khăn đặc biệt của năm 2020.

Nhìn một cách bao quát, có thể thấy hoạt động của toàn ngành Ngân hàng giai đoạn vừa qua có sự thông suốt, kịp thời từ chỉ đạo điều hành của NHNN, đến thực thi chính sách của TCTD được thể hiện rõ thông qua các quan hệ hợp tác, cộng sinh giữa ngân hàng với người dân và DN. Đây là minh chứng cho thấy kết quả hiệu ứng của công tác cải cách hành chính (CCHC) ngành Ngân hàng đã lan tỏa trong nền kinh tế?
Năm 2020 đánh dấu 10 năm thực hiện Chương trình tổng thể CCHC nhà nước theo Nghị quyết 30c/NQ-CP của Chính phủ. Với phương châm lấy người dân, DN làm trung tâm, chương trình CCHC của NHNN tập trung vào 6 trụ cột chính là cải cách thể chế, thủ tục hành chính, tổ chức bộ máy hành chính nhà nước, chất lượng đội ngũ cán bộ công chức, cải cách tài chính công và hiện đại hóa hành chính nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước gắn với đổi mới phương thức phục vụ của toàn ngành Ngân hàng.
Bên cạnh đó, NHNN đã cập nhật, ban hành Kiến trúc Chính phủ điện tử phiên bản 2.0; cung cấp hiệu quả cho tổ chức, cá nhân 61/348 dịch vụ công trực tuyến mức độ 4; đồng thời, tích cực tham gia Cơ chế một cửa Quốc gia và Cơ chế một cửa ASEAN; 100% các đơn vị thuộc NHNN đã triển khai xử lý văn bản, hồ sơ công việc trên môi trường mạng; 100% văn bản gửi, nhận trên Trục liên thông văn bản quốc gia được tích hợp chữ ký số tổ chức và chữ ký cá nhân của Ban lãnh đạo NHNN.
Sau nhiều năm lãnh đạo, chỉ đạo công tác CCHC của NHNN, tôi nhận thấy điểm quan trọng nhất, chìa khóa thành công của CCHC đó chính là nhận thức rõ ràng về mục tiêu, tính cấp bách, trách nhiệm chính trị của lãnh đạo các cấp trong Ngành và sự chuyển biến thực sự trong hành động quyết liệt của cả hệ thống ngân hàng. Bản thân các TCTD nhận thấy CCHC đã mang lại hiệu quả trong tất cả quan hệ kinh tế giữa NHTM, DN và người dân. Thực hiện chỉ đạo của NHNN, các TCTD đã tập trung đổi mới công tác quản trị, điều hành; thu gọn các bộ phận trung gian để giảm chi phí hoạt động làm cơ sở cắt giảm lãi suất, phí cho khách hàng; nâng cao chất lượng dịch vụ, đa dạng hóa sản phẩm phi tín dụng điện tử có tính an toàn, bảo mật cao; đơn giản hóa thủ tục cho khách hàng vay vốn, rút ngắn thời gian xử lý nội bộ; công khai trên trang tin điện tử ngân hàng toàn bộ các quy trình, thủ tục cung cấp dịch vụ, biểu phí, lãi suất…
Nhờ đó, năm 2020 là năm thứ 5 liên tiếp NHNN dẫn đầu bảng xếp hạng chỉ số CCHC (Par Index) các bộ, ngành Trung ương. Theo Báo cáo về Môi trường kinh doanh 2020 được Nhóm Ngân hàng Thế giới công bố, chỉ số tiếp cận tín dụng Việt Nam tăng 7 bậc, đứng thứ 25/190 nền kinh tế, đứng thứ 2 trong các nước ASEAN. Trong đó, chỉ số chiều sâu thông tin tín dụng của Việt Nam đạt điểm tối đa 8/8 điểm. Những kết quả đó đã thể hiện quyết tâm cao của Ban lãnh đạo NHNN trong việc chỉ đạo các đơn vị trong toàn Ngành không ngừng nỗ lực trong việc cải thiện các chính sách về tiếp cận tín dụng, CCHC, nâng cao hiệu lực, hiệu quả trong chỉ đạo điều hành và thực thi chính sách, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân và DN được tiếp cận tín dụng dễ dàng, công bằng, minh bạch.

Sau đại dịch Covid-19, cả thế giới phải thích ứng với điều kiện “bình thường mới”. Đây cũng là động lực thúc đẩy tất cả các ngành, lĩnh vực thực hiện số hóa mạnh mẽ hơn. Theo ông, ngành Ngân hàng cần có giải pháp gì để lường đón thách thức cũng như cơ hội để thực hiện chuyển đổi số?
Tôi cho rằng đây là vấn đề rất quan trọng, thực sự là thời cơ và cũng là những thách thức rất lớn mà ngành Ngân hàng phải nhanh chóng nắm lấy và vượt qua. Sự nỗ lực của ngành Ngân hàng trong thực hiện chủ trương phát triển TTKDTM của Chính phủ nhiều năm qua, cộng với tác nhân là Covid-19 bùng phát đã khiến thói quen tiêu dùng, thanh toán của người dân thay đổi. Nhu cầu sử dụng các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng số và phương thức thanh toán hiện đại, tiện ích tăng cao. Đơn cử, so với năm 2019, số lượng giao dịch thanh toán qua điện thoại di động đã tăng khoảng 124% về số lượng và 125,4% về giá trị; thanh toán qua Internet đạt gần 374 triệu giao dịch, tăng 8,3% về số lượng, 25,5% về giá trị giao dịch. Tổng số lượng giao dịch qua Hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng đạt hơn 119 triệu món, tăng 7,3% so với năm 2019.
Tháng 6/2020, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt “Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030” với ba trụ cột: phát triển chính phủ số; phát triển kinh tế số; và phát triển xã hội số. Do đó, không chỉ ngành Ngân hàng mà tất cả các lĩnh vực kinh tế – xã hội khác sẽ vào cuộc quyết liệt hơn trong tiến trình chuyển đổi số đã được triển khai nhiều năm qua. Thực ra, đối với ngành Ngân hàng, xu hướng chuyển đổi số đã được thực hiện nhiều năm qua. Đến nay, hạ tầng kỹ thuật và công nghệ phục vụ TTKDTM, nhất là thanh toán điện tử được đầu tư, nâng cấp khá toàn diện. Trong đó, Hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng hoạt động an toàn, hiệu quả và thông suốt, tiếp tục phát huy vai trò là Hệ thống thanh toán xương sống của quốc gia, đáp ứng tốt nhu cầu thanh toán liên ngân hàng trong toàn quốc. Hoạt động TTKDTM có sự phát triển mạnh mẽ, nhất là thanh toán qua điện thoại di động và Internet; xu hướng chuyển dịch sang các sản phẩm, dịch vụ có ứng dụng công nghệ mới, hiện đại, tiện ích của người dân, doanh nghiệp ngày càng rõ nét; cùng với đó thanh toán điện tử trong khu vực dịch vụ công tiếp tục được triển khai rộng rãi.
Trong năm 2021, NHNN tập trung hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về lĩnh vực thanh toán, đây là một yêu cầu rất cấp bách. Chúng tôi đã và đang hoàn thiện để trình Chính phủ nghị định thay thế Nghị định 101 về TTKDTM và Nghị định về cơ chế thử nghiệm có kiểm soát hoạt động công nghệ tài chính (Fintech) trong lĩnh vực ngân hàng. NHNN sẽ sớm xây dựng Đề án phát triển TTKDTM giai đoạn 2021-2025; Mở rộng triển khai Hệ thống thanh toán bù trừ tự động phục vụ các giao dịch bán lẻ (ACH), qua đó thiết lập hạ tầng thanh toán bán lẻ kết nối nhiều ngành, lĩnh vực khác nhau. NHNN sẽ tiếp tục có những chính sách nhằm thúc đẩy các đơn vị trong toàn Ngành đổi mới sáng tạo, ứng dụng thành tựu CMCN 4.0 trong hoạt động thanh toán, tăng cường hợp tác ngân hàng-Fintech. Bên cạnh đó NHNN sẽ tăng cường quản lý, giám sát đối với các hệ thống thanh toán, đảm bảo sự vận hành an toàn, hiệu quả và gia tăng lòng tin đối với thanh toán điện tử. Đồng thời đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền về TTKDTM, giáo dục tài chính; tăng cường các biện pháp bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, đồng thời nâng cao chất lượng, hiệu quả dịch vụ thanh toán…
Năm 2021 – năm đầu tiên nhiệm kỳ mới và cũng đánh dấu mốc 70 năm thành lập ngành Ngân hàng. Ông có thể cho biết định hướng điều hành CSTT của NHNN trong năm đặc biệt này?
Chúng ta đều biết dịch bệnh Covid-19 kéo dài ở nhiều khu vực và quốc gia trên thế giới có thể tiếp tục gây ảnh hưởng lên chuỗi giá trị toàn cầu. Xu hướng dịch chuyển dòng vốn đầu tư toàn cầu, chuyển hướng thương mại; nguy cơ về việc một số quốc gia áp đặt các hàng rào thuế quan đối với hàng hóa Việt Nam có thể ảnh hưởng tới cung cầu ngoại tệ và tâm lý trên thị trường ngoại hối trong nước… Trong khi đó nền kinh tế Việt Nam có độ mở ngày càng lớn, chúng ta đã ký kết nhiều hiệp định quan trọng như EVFTA, RCEP… Chúng tôi hiểu rằng, những biến động khó lường của thế giới sẽ tiếp tục có tác động không nhỏ đến Việt Nam khiến công tác phân tích, dự báo trở nên khó khăn hơn, đặt ra những thách thức lớn đối với công tác điều hành CSTT, chính sách tỷ giá và quản lý thị trường ngoại hối của NHNN.
Trong nước, ngay cả sau khi dịch Covid-19 được đẩy lùi thì nền kinh tế cũng phải có thêm thời gian để phục hồi. Do đó, NHNN sẽ tiếp tục chỉ đạo, hướng dẫn các đơn vị triển khai các giải pháp tháo gỡ khó khăn cho DN và người dân bị ảnh hưởng bởi đại dịch Covid-19, thiên tai, bão lũ và biến đổi khí hậu; tiếp tục tái cấp vốn cho NHCSXH để hỗ trợ người lao động. Tiếp tục chỉ đạo các TCTD tiết giảm chi phí, giảm chỉ tiêu lợi nhuận để có điều kiện giảm lãi suất cho vay; mở rộng tín dụng đi đôi với an toàn, hiệu quả; thúc đẩy nâng cao chất lượng dịch vụ thanh toán, tạo thuận lợi cho DN và người dân.
Theo Nghị quyết về kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội của Quốc hội đặt mục tiêu tăng trưởng GDP năm 2021 khoảng 6%, lạm phát khoảng 4%, cùng 10 chỉ tiêu kinh tế – xã hội khác. Để góp phần thực hiện thắng lợi những chỉ tiêu này, NHNN chủ trương kiên định mục tiêu điều hành CSTT chủ động, linh hoạt, thận trọng, phối hợp hài hòa với các chính sách kinh tế vĩ mô khác nhằm mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế bền vững, ổn định thị trường tiền tệ và ngoại hối; mở rộng tín dụng đi đôi với an toàn hiệu quả để hỗ trợ quá trình phục hồi sản xuất, kinh doanh của DN phù hợp với mục tiêu ổn định lạm phát (bình quân khoảng 4%). Năm 2021, NHNN định hướng tổng phương tiện thanh toán tăng khoảng 12%; tín dụng tăng khoảng 12%, có điều chỉnh phù hợp với diễn biến, tình hình thực tế. Toàn ngành tiếp tục triển khai quyết liệt, hiệu quả các giải pháp cơ cấu lại hệ thống các TCTD gắn với xử lý nợ xấu, bảo đảm an toàn hệ thống; tiếp tục đẩy mạnh TTKDTM; thúc đẩy chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng; Tiếp tục thực hiện quyết liệt công tác CCHC, cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao hệ số tín nhiệm và niềm tin của người dân, DN vào cơ chế, chính sách và hoạt động của ngành Ngân hàng.
Với tinh thần kịp thời, nhất quán, quyết liệt tôi tin rằng ngành Ngân hàng sẽ tiếp tục thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị được Đảng, Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng giao phó; tiếp nối những thành tựu đáng tự hào của 70 năm đồng hành, phát triển cùng nền kinh tế.
Trân trọng cảm ơn Phó Thống đốc Thường trực!
Theo Thoibaonganhang