Mô hình phân cấp thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu Nhà nước tại DN hiện nay đã lộ ra những kẽ hở về quản lý, giám sát DNNN khiến nhiều sai phạm được phát hiện nhưng khó quy trách nhiệm. Trong khi có cách khác đơn giản và hiệu quả hơn, nhưng chưa được áp dụng.
Lắm mối nhiều khe
Trong những năm gần đây, nhiều sai phạm nghiêm trọng được phát hiện trong một số DNNN cho thấy đã làm thất thoát một giá trị lớn tài sản của Nhà nước. Có thể kể ra như các trường hợp điển hình ở Vinashin, Vinalines… Một số ý kiến cho rằng, chỉ xử lý những người trực tiếp gây ra sai phạm ở cấp DN cụ thể là chưa “đủ” người, hết tội? Vậy, câu hỏi cần đặt ra là những đại diện cho chủ sở hữu và cơ quan quản lý Nhà nước chuyên ngành đã điều hành như thế nào mà để các sai phạm nghiêm trọng trên trong một số DNNN có thể diễn ra trong nhiều năm?
Nhìn ở góc độ này, theo TS.Nguyễn Đình Cung – Quyền Viện trưởng Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương, những người quản lý chỉ gánh chịu một phần, có thể là phần ít, phần khác phải do người khác và nơi khác!. Đại biểu Quốc hội Trần Du Lịch cho rằng, đang có lỗ hổng lớn về pháp lý dẫn tới lỗ hổng trách nhiệm. Ông Lịch cho biết, từ khi bỏ Luật DNNN để áp dụng một Luật DN chung (2005) thì càng rõ lỗ hổng pháp lý này.

DNNN quá đơn độc khi theo dòng chảy của thị trường
Nhìn lại cơ chế phân cấp thực hiện quyền chủ sở hữu Nhà nước tại DNNN thì thấy, vẫn có lỗ hổng do sự ủy nhiệm không gắn với trách nhiệm đi kèm. Quốc hội giao Chính phủ làm đại diện chủ sở hữu DNNN, Chính phủ giao UBND các tỉnh hoặc các cơ quan quản lý Nhà nước chuyên ngành như các bộ. Như vậy, mỗi bộ đang phải thực hiện nhiệm vụ “3 trong 1”: vừa làm chính sách, vừa quản lý điều tiết thị trường, vừa thực hiện chức năng nhiệm vụ chủ sở hữu với DNNN. Như vậy, DNNN tính ra phải chịu tới 15 sự giám sát của các bộ khác nhau, có bộ thì thực hiện 5 quyền giám sát, còn bộ khác thì 3 quyền trên cùng 1 DNNN…
Cuối cùng, xảy ra tình trạng thất bại thì không ai chịu, thành công ai cũng có thành tích. Đó là thực trạng quản lý DNNN. “Nhà nước 3 trong 1 đối với DNNN không phù hợp với thể chế kinh tế thị trường, có nguy cơ xung đột lợi ích, gây bất bình đẳng giữa các DN”, ông Cung nhận xét.
Ngược lại, không ít lần các bộ cho biết không nắm được đầy đủ thông tin của DN và DN không báo cáo. Trong khi bên lề một hội nghị về DNNN do Thủ tướng Chính phủ chủ trì, Chủ tịch HĐQT một tập đoàn kinh tế Nhà nước nói với phóng viên Thời báo Ngân hàng: “Chúng tôi chịu sự quản lý của nhiều cấp và báo cáo rất nhiều, báo cáo thường xuyên, báo cáo định kỳ. Chúng tôi cũng chịu sự giám sát, kiểm tra, thanh tra của nhiều cơ quan chức năng, nhưng DNNN vẫn mang tiếng không công khai, thiếu minh bạch”.
DNNN cần được luật hóa
Kết quả khảo sát DNNN của CIEM thì khối DN này đang phải chịu áp lực lớn về nghĩa vụ phải báo cáo. Cụ thể, lãnh đạo khối DNNN cho biết, mỗi tháng họ phải làm khoảng 23 loại báo cáo khác nhau và có quá nhiều đoàn đến thanh tra, kiểm tra với nội dung chồng chéo như: Thanh tra tài chính; Thanh tra chuyên ngành; Thanh tra Nhà nước và Thanh tra công tác Đảng…
Lắm đầu mối quản lý, nhiều tổ chức kiểm tra thanh tra nhưng đến nay vai trò, vị trí, mục tiêu của DNNN là gì chưa được luật hóa, chỉ được nêu định hướng chung trong Nghị quyết của Đảng là: “DNNN là lực lượng nòng cốt của kinh tế Nhà nước, là lực lượng vật chất quan trọng, là công cụ hỗ trợ để Nhà nước điều tiết nền kinh tế, ổn định kinh tế vĩ mô, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội của đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa”.
TS. Trần Đình Thiên, Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam cho rằng, điểm mấu chốt là phải làm rõ vai trò, vị thế của DNNN.
DNNN chưa được luật hóa và không có mục tiêu định lượng, định tính cụ thể thì không có tiêu chí đánh giá hiệu quả. Vì thế, DN làm nhiều loại báo cáo như vậy và gửi nhiều nơi, nhưng chính họ không phân biệt báo cáo nào là báo cáo gửi cơ quan quản lý Nhà nước, báo cáo nào gửi chủ sở hữu… Nội dung báo cáo thì na ná giống nhau. DN không phân biệt rõ nét, báo cáo gửi cơ quan quản lý Nhà nước và báo cáo gửi chủ sở hữu thì có những nội dung gì khác cần báo cáo. Cơ quan Nhà nước không có bộ phận chuyên trách quản lý DN nên báo cáo DN gửi lên lúc chuyển vụ này, lúc chuyển vụ kia, khiến nhiều bản báo cáo được xây dựng, gửi đi nhưng phân tán và cơ quan quản lý không nắm được thông tin tổng thể, đầy đủ và không theo dõi có hệ thống khiến không có căn cứ để theo dõi, đánh giá DNNN.
“Chủ sở hữu không đặt mục tiêu cụ thể thì không đánh giá được có đạt mục tiêu hay không. Cho nên, dưới thì vất vả tốn kém với quá nhiều báo cáo, nhưng trên thì không đánh giá được”, ông Cung nhận xét. Ngược lại, cũng vì kẽ hở này nên không ít báo cáo của DNNN không đủ độ minh bạch dù vẫn được công khai. Tình trạng thiếu cơ sở pháp lý ở mức cao đã ảnh hưởng đến việc thống nhất trong thực hiện các quyền, nghĩa vụ của chủ sở hữu Nhà nước, cũng như của chính các DNNN, không thể hiện rõ trách nhiệm giải trình của DNNN trong khi tạo ra gánh nặng hành chính đáng kể về nghĩa vụ tuân thủ các DN.
Vậy giải pháp thế nào?. “Có cách khác đơn giản và hiệu quả hơn mà hiện chưa làm”, theo ông Cung. Đó là phải áp kỷ luật thị trường với DNNN và cơ quan chủ sở hữu phải xác định mục tiêu sứ mệnh của DNNN là gì, từ mục tiêu đặt chiến lược, ra chỉ tiêu. Đây là những cơ sở để quản lý, giám sát, đánh giá xem DN có thực hiện hay không thực hiện như thế nào, vì sao? Bên cạnh đó là áp lực kiểm soát nội bộ, tăng giám sát bên ngoài, giám sát của thị trường buộc DN phải công khai và minh bạch thông tin hơn.
Theo Tri Nhân/Thời báo Ngân hàng