Bàn cách tăng cho vay nông nghiệp, nông thôn

18/11/2013 - 9:51:21 Chiều
chia sẻ
Bàn cách tăng cho vay nông nghiệp, nông thôn
Theo bà Nguyễn Thị Mai Sương, Giám đốc NHNN chi nhánh TP. Hà Nội, Chính phủ cần có chính sách và quỹ phòng ngừa rủi ro để hỗ trợ nông dân trong sản xuất nông nghiệp khi họ gặp rủi ro bất khả kháng để ổn định tài chính, tái sản xuất của hộ gia đình được bền vững.
Có thể nói, Nghị định 41/NĐ-CP về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn đã góp phần khơi thông nguồn vốn và thúc đẩy đầu tư tín dụng vào lĩnh vực nông nghiệp nông thôn (NNNT), góp phần tháo gỡ khó khăn về cơ chế tín dụng cho cả người đi vay và ngân hàng.Song, cùng với những hiệu ứng tích cực, thực tế qua 3 năm triển khai, Nghị định 41 bắt đầu bộc lộ những điểm chưa phù hợp với thực tế, cần có chính sách, biện pháp tháo gỡ. Thời báo Ngân hàng gửi đến bạn đọc một số ý kiến đề xuất các giải pháp tháo gỡ khó khăn vướng mắc trong triển khai Nghị định 41 từ những người trong cuộc.

Bà Nguyễn Thị Mai Sương, Giám đốc NHNN chi nhánh TP. Hà Nội

Nên dành ngân sách hỗ trợ nông nghiệp

g21
Bà Nguyễn Thị Mai Sương

Chính phủ cần xem xét có phương án hỗ trợ cho khách hàng vay vốn thuộc đối tượng Nghị định 41 khi gặp khó khăn do yếu tố khách quan, thiên tai dịch bệnh… không phải đại trà trên diện rộng. Đồng thời, có chính sách và quỹ phòng ngừa rủi ro để hỗ trợ nông dân trong sản xuất nông nghiệp khi họ gặp rủi ro bất khả kháng để ổn định tài chính, tái sản xuất của hộ gia đình được bền vững.

Chính phủ cần có biện pháp chỉ đạo quyết liệt hơn để các địa phương, bộ ngành có liên quan hoàn thành việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và giấy chứng nhận trang trại cho các hộ gia đình và chủ trang trại, tạo cơ sở pháp lý cho đối tượng này vay vốn được thuận lợi. Việc quy hoạch sản xuất cây, con cũng như tiêu thụ sản phẩm cho nông nghiệp là vấn đề mang tính vĩ mô mà bản thân người nông dân không tự giải quyết được. Do vậy, đòi hỏi phải có sự trợ giúp từ Chính phủ và các bộ, ngành từ dự báo đến tìm thị trường tiêu thụ sản phẩm cho nông dân.

Chúng ta cũng nên dành một phần ngân sách để trợ giá các sản phẩm nông nghiệp khi nông dân mãi không thoát khỏi vòng luẩn quẩn “được mùa rớt giá” và ngược lại. Bên cạnh đó, cần xử lý kiên quyết các vi phạm trong sản xuất, cung ứng giống cây trồng, vật nuôi, thức ăn gia súc, gia cầm, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật giả, kém chất lượng để hạn chế thiệt hại cho nông dân.

Đề nghị NHNN Việt Nam bổ sung các quy định về phân loại nợ, trích lập dự phòng và xử lý rủi ro đối với cho vay NNNT. Nên thực hiện phân loại nợ đối với khoản vay được áp dụng phương thức cho vay lưu vụ là được giữ nguyên nhóm nợ tại thời điểm thực hiện cho vay lưu vụ, phù hợp tính chất nợ và đặc thù khách hàng lĩnh vực NNNT. Trong trường hợp khách hàng bị thiệt hại do thiên tai, dịch bệnh phát sinh trên diện rộng mà không cơ cấu lại nợ, TCTD xem xét phân loại nợ bình thường nhưng không tính nợ xấu và trích lập theo khả năng tài chính của TCTD đối với dư nợ bị thiệt hại.

Nếu dư nợ bị thiệt hại do thiên tai dịch bệnh trên diện rộng được xử lý rủi ro bằng nguồn của Chính phủ, thì dư nợ cho vay mới được phân loại nợ bình thường không phụ thuộc vào khoản nợ đã xử lý rủi ro. Theo tôi, đối với lĩnh vực NNNT, ngay sau khi khách hàng trả đầy đủ nợ gốc và lãi thì khoản vay được chuyển về nhóm 1 và không quy định thời gian thử thách. Nợ từ nhóm 2 đến nhóm 5 được giảm 50% trích lập dự phòng rủi ro so với mức trích cùng loại.

Ông Lâm Hoàng Sa, Phó chủ tịch UBND tỉnh Kiên Giang

Cơ chế còn quá đặc thù

g21.2
Ông Lâm Hoàng Sa

Theo Nghị định 41/2010/NĐ-CP của Chính phủ, đối tượng thụ hưởng chính sách tín dụng NNNT phải là tổ chức, cá nhân cư trú và có cơ sở, dự án sản xuất kinh doanh tại nông thôn. Quy định này làm cho các cơ sở sản xuất nông nghiệp ở vùng ven đô thị và nông, ngư dân cư trú tại các phường, thị trấn không tiếp cận được chính sách, mặc dù đôi khi họ canh tác trên các thửa đất liền kề nhau; hoặc đánh bắt trên cùng ngư trường với nông, ngư dân đang thụ hưởng chính sách. Do đó, đã có tình trạng bất hợp lý, thiếu công bằng trong thực thi chính sách.

Chính vì vậy, Chính phủ cần xem xét sửa đổi, bổ sung Nghị định 41/2010/NĐ-CP về chính sách tín dụng NNNT theo hướng mở rộng đối tượng áp dụng đến tất cả nông, ngư, diêm dân, không phân biệt nơi cư trú, nơi sản xuất và bổ sung biện pháp xử lý trong trường hợp người vay gặp rủi ro thị trường. Bên cạnh đó, việc triển khai thực hiện Nghị định 41/2010/NĐ-CP của một số bộ, ngành còn thiếu đồng bộ nên chưa phát huy đầy đủ hiệu quả của chính sách, như: bảo hiểm nông nghiệp. Đặc biệt là cơ chế phân loại nợ, trích lập dự phòng rủi ro phù hợp tính chất đặc thù cho vay NNNT…

Do vậy, trong thời gian tới để khai thác và phát huy hơn nữa nguồn lực quan trọng này, những hạn chế, rào cản trên cần khắc phục, loại bỏ. UBND tỉnh Kiên Giang đề nghị hàng năm, Chính phủ và NHNN cần dành một phần vốn ngân sách và hạn mức tái cấp vốn để cho vay các phương án, dự án mang tính chất đầu tư phát triển trong lĩnh vực NNNT như xây dựng cơ sở hạ tầng, chuyển dịch cơ cấu sản xuất, đổi mới giống vật nuôi, cây trồng… Chúng ta cũng nên có chính sách khuyến khích cao hơn về giảm dự trữ bắt buộc, lãi suất tái cấp vốn, hạn mức tăng trưởng tín dụng đối với các ngân hàng cho vay các đối tượng này.

Tôi cho rằng, Chính phủ cần quy định cụ thể về việc xử lý rủi ro đối với nợ cho vay bảo đảm bằng tín chấp qua các hội, đoàn thể và nợ cho vay không có bảo đảm bằng tài sản chỉ giữ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để các TCTD mở rộng thực hiện, giúp người dân tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng thuận lợi hơn. Nợ xấu trong cho vay NNNT dễ phát sinh, nhưng nguy cơ mất vốn lại thấp hơn các lĩnh vực khác.

Theo đó, Bộ Tài chính và NHNN cần xây dựng cơ chế phân loại nợ, trích lập dự phòng rủi ro phù hợp với đặc thù cho vay NNNT, nhất là đối với trường hợp cho vay không có bảo đảm bằng tài sản, nhằm giảm chi phí trích lập dự phòng và hạ lãi suất cho vay.

NHNN nên xem xét bổ sung chính sách cho vay tín chấp qua đoàn thể, hoặc bảo đảm bằng cây trồng, vật nuôi có bảo hiểm để người dân tiếp cận được vốn tín dụng ngân hàng, thực hiện các mô hình nuôi trồng thủy sản có hiệu quả trên bãi bồi, ven biển… góp phần tăng giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và nâng cao thu nhập cho người dân.

Ông Hồ La Thành, Giám đốc NHNN chi nhánh Hậu Giang

Cần trợ lực từ bảo hiểm rủi ro nông nghiệp

g21.3
Ông Hồ La Thành

Nhằm tạo điều kiện thuận tiện hơn trong quá trình vay vốn, theo tôi cần một cơ chế riêng đối với tín dụng cho tam nông như: kết hợp giữa chính quyền địa phương cung cấp những thông tin về nghề nghiệp, tình hình kinh tế của những người vay và tập hợp lại để vay theo nhóm. Như vậy, mỗi lần phát vay, ngân hàng sẽ tập hợp lại đi thẩm định một lần không tốn nhiều chi phí, công sức. Song, để làm được điều này, sự tin tưởng lẫn nhau có ý nghĩa quan trọng khi ba bên làm việc và cung cấp thông tin cho nhau.

Nếu người nông dân có sổ đỏ thì nên thế chấp sổ đỏ để nâng cao trách nhiệm trả nợ của người vay. Tuy nhiên, việc giữ sổ đỏ lại gây ra một số khó khăn cho ngân hàng như: người vay sau khi gửi sổ đỏ tại ngân hàng có thể sẽ cố tình báo mất sổ. Sau đó làm lại sổ mới đem đi thế chấp sổ mới ở một ngân hàng khác. Ngoài ra, việc giữ sổ đỏ chỉ qua biên bản làm việc giữa 2 bên sẽ gây ra những tranh cãi khi có sự cố mất mát, cháy nổ xảy ra… Do vậy, NHNN Việt Nam nên có giải pháp cụ thể về vấn đề này.

Để nâng cao chất lượng tín dụng, đảm bảo nợ xấu ở mức thấp nhất, bên cạnh việc tăng cường công tác tự kiểm tra tín dụng, kịp thời chấn chỉnh những sai sót… thì các sở, ban, ngành của tỉnh hỗ trợ các TCTD trong việc đưa ra mô hình bảo hiểm rủi ro trong nông nghiệp.

Như hiện nay, nguồn vốn được huy động từ dân cư và từ nguồn vay tái cấp vốn chủ yếu là nguồn vốn ngắn hạn, trong khi đó nhu cầu vay vốn đối tượng NNNT phần lớn là nhu cầu vốn trung và dài hạn. Chi phí tác nghiệp cho vay NNNT thường khá cao. Trong khi việc đầu tư cho NNNT, sản xuất nông nghiệp lại gặp những rủi ro bất khả kháng.

Do đó, mức trích lập dự phòng rủi ro đối với những khoản cho vay cũng tăng cao hơn; khả năng xử lý thu hồi nợ thường gặp khó khăn. Vì vậy, nếu mô hình bảo hiểm rủi ro trong nông nghiệp được triển khai thì các TCTD sẽ mạnh dạn đẩy mạnh tín dụng NNNT.

Về phía địa phương, UBND tỉnh Hậu Giang nên có quy hoạch phân vùng cơ cấu lại cây lúa, cây ăn trái, cá tra, cây trồng và vật nuôi phù hợp theo định hướng phát triển kinh tế các hội của tỉnh để hỗ trợ việc đầu tư đúng hướng và phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội trên địa bàn.g21.4

Các cơ sở, hộ cá nhân sản xuất nông nghiệp vùng ven đô thị không được thụ hưởng chính sách của Nghị định 41/2010/NĐ-CP

Bà Nguyễn Thị Hiền, Viện Chiến lược Ngân hàng (NHNN)

Đẩy nhanh thủ tục hành chính

Các chuyên gia kinh tế đã nhận định và chỉ ra một trong những nguyên nhân cản trở hoạt động tín dụng là sự thiếu hụt trong chính sách tín dụng vi mô cho bảo hiểm cũng như chính sách vĩ mô bao trùm. Điều 14, Nghị định 41 quy định rõ về bảo hiểm nông nghiệp. Nhưng thực tế, sản xuất nông nghiệp Việt Nam vẫn chưa có thị trường tiêu thụ nông sản đủ sức thu hút DN bảo hiểm. Hơn nữa, chính sách của NHNN cũng khá hạn chế trong thị trường tài chính vi mô này. Vì vậy, cách làm thí điểm bảo hiểm nông nghiệp thời gian qua chưa phát huy được hiệu quả.

Mới đây, LienVietPostBank đã đưa ra sáng kiến cho vay NNNT có bảo hiểm lãi suất tại đồng bằng sông Cửu Long. Nhưng, đây mới chỉ là bước khởi đầu cho mô hình này và quy mô áp dụng vẫn còn rất hẹp. Để mang tính lâu dài và hiệu quả, tôi đề nghị Chính phủ và các bộ, ngành liên quan xem xét sớm điều chỉnh, bổ sung để đưa bảo hiểm nông nghiệp đi vào cuộc sống, giúp nông dân yên tâm vay vốn sản xuất và tạo điều kiện để các TCTD thúc đẩy hoạt động tín dụng cho lĩnh vực NNNT.

Bên cạnh những chính sách ưu đãi về lãi suất cho các đối tượng vay vốn phát triển sản xuất NNNT, tôi cho rằng, thời gian tới, các bộ, ngành và chính quyền địa phương cần có những quy định về xử lý đối với các trường hợp sử dụng vốn sai mục đích, vi phạm hợp đồng tín dụng, chây ỳ không trả nợ. Nhất là các giải pháp cải cách thủ tục hành chính, chính quyền địa phương các tỉnh phải đẩy nhanh tiến độ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, tạo thuận lợi để các hộ nông dân đủ điều kiện tiếp cận vốn vay ngân hàng.

Song song với đó, cần có sự phối hợp giữa các bộ, ngành liên quan xây dựng chiến lược, kế hoạch quy hoạch tổng thể và hình thành các vùng sản xuất lớn; các mô hình phát triển kinh tế theo lợi thế từng vùng, từng địa phương… Có như vậy, chúng ta mới tạo điều kiện thúc đẩy phát triển sản xuất nông nghiệp theo quy mô lớn, đảm bảo quy trình khép kín.

NHNN chi nhánh các địa phương nên thường xuyên gặp gỡ, trao đổi với các hiệp hội ngành nghề, các TCTD trên địa bàn nhằm kịp thời giải quyết các vấn đề tồn tại, những khó khăn, vướng mắc trong cơ chế, chính sách có liên quan. Bên cạnh đó, NHNN Việt Nam nên có những chính sách ưu đãi, khuyến khích các TCTD mở rộng, phát triển mạng lưới trên địa bàn nông thôn, miền núi, nhất là vùng sâu, vùng xa. Hiện nay, ở khu vực nông thôn vẫn chủ yếu là chi nhánh của các NHTM nhà nước, quỹ tín dụng nhân dân. Sự tham gia của các NHTMCP khá khiêm tốn.

Theo Thời báo Ngân hàng