Nhân lên ưu điểm
Theo TS. Cao Sĩ Kiêm, việc chuyển đổi Quỹ tín dụng Trung ương (QTDTW) thành Ngân hàng Hợp tác xã Việt Nam chẳng những không làm mất đi những ưu điểm vốn có của hệ thống Qũy tín dụng nhân dân (QTDND), trái lại còn tăng thêm.
Vì nhiệm vụ của ngân hàng này gồm 2 nội dung: Một là mở rộng các nghiệp vụ ngân hàng để khắc phục những tồn tại trước đây của các QTDND hoặc thiếu yếu tố điều kiện. Hai là được mở ra để phục vụ cho các đối tượng ở nông thôn, đặc biệt là những thành viên của các QTDND.
Cho nên, những yếu tố cần sự hỗ trợ của Nhà nước hoặc các thành phần xã hội khác đối với QTDND vẫn còn nguyên ở Ngân hàng Hợp tác này. Do đó, không những không bị hạn chế mà còn có điều kiện tốt hơn, rộng hơn và thuận lợi hơn để ngân hàng phát huy hết hiệu quả của mình trong hoạt động ngân hàng cũng như với các đối tượng ở nông thôn.
Đặc biệt theo TS. Kiêm, những lo ngại rằng vì mục tiêu lợi nhuận, rất có thể Ngân hàng Hợp tác sẽ ưu tiên cho vay ra bên ngoài là hoàn toàn không có cơ sở. Bởi trong quy định chức năng nhiệm vụ của ngân hàng này nêu rất rõ: Trọng tâm chủ yếu là phục vụ cho các QTDND thành viên. Khi điều kiện cho phép hoặc vốn đáp ứng đầy đủ các thành viên rồi thì mới huy động và cho vay ngoài thành viên.
Liên quan đến vấn đề rủi ro, TS. Kiêm cho biết: rủi ro trong hoạt động ngân hàng, tín dụng và tiền tệ phụ thuộc vào 3 vấn đề. Thứ nhất là môi trường pháp lý. Thứ hai là chất lượng, dịch vụ, phục vụ của ngân hàng đó. Thứ ba là đội ngũ nhân viên phục vụ thế nào.
Thực tế cho thấy, với QTDND đã hoạt động nhiều năm, số nợ xấu, nợ quá hạn lại thấp hơn bình quân so với các ngân hàng khác. Điều này chứng tỏ chất lượng và điều kiện hoạt động của họ có sự chỉn chu, kiểm soát chặt chẽ hơn. “Việc lo lắng về rủi ro là cần thiết, nhưng thực tế QTDND đã cho thấy kết quả tốt”, TS. Kiêm nhấn mạnh.
Thêm kênh vốn cho nông nghiệp – nông thôn
Trong thời gian qua, nhất là khi Việt Nam trở thành thành viên chính thức của WTO, hệ thống các Tổ chức tín dụng (TCTD) đã có bước phát triển mạnh mẽ cả về số lượng, quy mô vốn và mạng lưới.
Tính đến cuối tháng 6/2013, hệ thống các TCTD bao gồm: 5 Ngân hàng thương mại Nhà nước; Ngân hàng Chính sách xã hội; 34 Ngân hàng thương mại cổ phần; 50 Chi nhánh ngân hàng nước ngoài; 4 ngân hàng liên doanh; 5 ngân hàng 100% vốn nước ngoài…
Tuy nhiên, theo TS. Cao Sỹ Kiêm, mặc dù hệ thống ngân hàng đang phát triển rất nhanh, số lượng tăng lên nhiều, nhưng tập trung chủ yếu ở thành thị. Trước đây, Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển Nông thôn Việt Nam đã mở rộng và có tới 4.000 – 5.000 điểm giao dịch ở nông thôn. Nhưng sau đó cơ cấu lại, “rút” về các Chi nhánh trực thuộc, khiến cho địa bàn hoạt động tại đây bị co lại.
Trong khi đó, các ngân hàng khác mặc dù cũng có hoạt động ở nông thôn, nhưng chỉ phục vụ cho những đối tượng thích hợp với chức năng hoạt động của họ. Còn ngân hàng hoạt động trực tiếp phục vụ cho các hộ nông dân như những món vay tiêu dùng, sản xuất thì rất hạn chế.
Hệ thống QTDND cũng còn khá mỏng. Việt Nam có 63 tỉnh, thành với khoảng 12.000 xã, phường, nhưng mới có 53 tỉnh, thành phố có QTDND, với gần 1.200 QTDND cơ sở. Có nghĩa mới đáp ứng được hơn 11% số xã, phường trong có cả nước và không đồng đều giữa các địa phương. Bên cạnh đó, phần lớn QTDND tập trung ở vùng đồng bằng, thành phố lớn, còn khu vực cần nhiều hoạt động của quỹ ở các vùng sâu vùng xa thì lại chưa thành lập được nhiều. Vì vậy, lỗ hổng lớn nhất hiện nay là ngân hàng phục vụ cho khu vực nông thôn.
Bởi vậy, việc ra đời Ngân hàng Hợp tác cộng với sự liên kết hệ thống một cách tốt hơn, giải quyết vấn đề điều hòa, điều hành vốn nhanh nhạy hơn, sự đảm bảo hỗ trợ từ phía Trung ương đối với quỹ tín dụng kịp thời hơn… thì khả năng phát triển sẽ lên rất nhanh. Việc liên kết, sôi động ở dưới nông thôn có thể tạo nên một luồng sinh khí mới, sự nhộn nhịp trong thị trường tài chính nông thôn.
Vi Anh